Chuyên Luận: Tiếng Nùng Lòi Trùng Khánh – Cao Bằng
Công trình này nằm trong bước một của kế hoạch 3 bước phát triển tiếng Tày – Nùng về mặt ngôn ngữ học do tổ ngôn ngữ trường Đại học Tổng hợp đề ra. Nó nhằm tìm hiểu tương đối toàn diện về hệ thống ngữ ẩm, tim hiểu một số đặc điểm vệ mặt từ vựng và ngữ pháp của tiếng Nùng – Lòi, bản Háng Thoang, xã Chí Viễn, huyện Trùng Khánh, Cao Bảng, để cùng các chuyên luận phương ngôn khác làm cơ sở cho việc lập bản đô tiếng Tày – Nùng trong phạm vi khu tự trị Việt Bắc, xác lập những ý niệm về thành phần phương ngôn cho một ngôn ngữ Tày -Nùng chung và tiền đề chọn phương ngôn cơ sở và âm tiêu chuẩn cho tiếng Tày – Nùng (bước 2), nhằm đi sâu nghiên cứu tiếng Tày – Nùng về mặt khoa học ( bước 3).
Về mặt ngôn ngữ, tiếng Tày – Nùng có những đặc điểm tương tự tiếng Tày, và các ngôn ngữ thuộc hệ Thái (Lào, Thái Lan …) về cấu trúc ngữ âm, hệ thống từ vựng và hệ thống ngữ pháp. Về nguồn gốc dân tộc, các tài liệu dân tộc học cho biết rằng : Người Nùng, người Tày (Việt Bắc), người Thái (Tây Bắc) ở Việt Nam và người Lào, người Thái Lan, ,.. vốn là một dân tộc. Trước Công nguyên, dân tộc này ở Vân Nam, Quý Châu ( Trung Quốc). Các bộ phận của dân tộc nay đi cư về phía Nam theo những con sông khác nhau, vào những thời gian khác nhau và đã lập nên các quốc gia riêng biệt (như Lào, Thái Lan,…) hoặc trở thành một dân tộc ít người của một quốc gia lớn khác ( như người Tày, người Nùng, người Thái ở Việt Nam). Vì vậy, trong công trình này chúng tôi nghiên cứu tiếng Nùng với tư cách là một phương ngôn của một ngôn ngữ Tày – Nùng chung.
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu của công trình và do quan niệm tiếng Nùng là một phương ngôn của ngôn ngữ Tày – Nùng, nên trong chuyên luận này chúng tôi chú trọng miêu tả hệ thống ngữ âm của phương ngôn Nùng này, và ưu tiên cho việc miêu tả những hiện tượng từ vựng và ngữ pháp vừa phục vụ cho việc lập bản đồ ngôn ngữ vừa nói lên đặc điểm của tiếng địa phương này, so với các địa phương khác trong tiếng Tày – Nùng.